CECAFÉ (Hội đồng Các nhà Xuất khẩu Cà phê Brazil) đã công bố vào thứ Tư, ngày 11, rằng trong tháng 2 vừa qua, Brazil đã xuất khẩu 2.618.408 bao cà phê (loại 60 kg/bao), giảm 23,54% (806.040 bao) so với mức 3.424.448 bao của tháng 2 năm 2025 và giảm 6,21% (173.329 bao) so với tháng 1. Đáng chú ý, lượng xuất khẩu Arabica trong tháng 2 đã giảm 12,16% (286.224 bao) so với tháng 1 năm 2026, nhưng lại tăng ở phân khúc Conilon (tăng 24,14% hay 43.996 bao), cà phê hòa tan (tăng 26,93% hay 68.025 bao) và cà phê rang (tăng 37,21% hay 874 bao).
Tổng lượng cà phê Brazil xuất khẩu trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 đạt 5.410.145 bao, giảm 27,28% (2.030.145 bao) so với 7.440.290 bao cùng kỳ năm 2025. Lượng xuất khẩu Arabica trong hai tháng đầu năm nay đạt 4.422.826 bao, giảm 28,88% (1.795.681 bao) so với mức 6.218.507 bao của tháng 1 và tháng 2 năm 2025. Do đó, sự sụt giảm của Arabica chiếm tới 88% tổng mức giảm xuất khẩu cà phê của Brazil trong hai tháng đầu năm nay.
Các hợp đồng Arabica trên sàn ICE Futures US và Robusta trên sàn ICE Europe đều sụt giảm trong tuần này.
Tại ICE Futures US, hợp đồng Arabica kỳ hạn tháng 5 đã dao động với biên độ 780 điểm giữa mức đỉnh và đáy trong ngày hôm nay, chạm mức cao nhất ngày tại 2,9050 USD/lb (giảm 140 điểm). Chốt phiên thứ Sáu ở mức 2,8515 USD/lb, giảm 675 điểm (2,31%). Hôm qua giá tăng 450 điểm và hôm kia giảm 840 điểm (2,84%). Vào thứ Ba, giá giảm 110 điểm (0,37%) và thứ Hai tăng 360 điểm (1,23%). Tính chung tuần này, giá giảm 815 điểm (2,78%), trong khi tuần trước tăng 1.255 điểm (4,47%). Giá đã giảm 3.460 điểm (10,97%) trong tháng 2 và 1.800 điểm (5,40%) trong tháng 1.
Tại ICE Europe, hợp đồng Robusta kỳ hạn tháng 5 chạm đỉnh trong ngày hôm nay tại 3.626 USD/tấn, tăng 1 USD. Chốt phiên giao dịch ở mức 3.455 USD/tấn, giảm 170 USD (4,69%). Hôm qua giá tăng 72 USD (2,03%) và hôm kia giảm 139 USD (3,76%). Vào thứ Ba, giá giảm 79 USD (2,09%) và thứ Hai giảm 1 USD. Tính chung tuần này, giá giảm 317 USD (8,40%), trong khi tuần trước tăng 148 USD (4,08%). Giá đã tăng 33 USD (0,92%) trong tuần trước đó nữa. Giá đã giảm 413 USD (10,23%) trong tháng 2 và tăng 165 USD (4,26%) trong tháng 1.
Hôm nay, lượng tồn kho cà phê Arabica đạt chuẩn trên sàn ICE Futures US đã tăng 8.900 bao, đạt mức 572.004 bao. Cách đây một năm, con số này là 802.277 bao, tương đương mức giảm 230.273 bao trong giai đoạn này. Tồn kho đã tăng 31.137 bao trong tuần này và tăng 63.638 bao trong tuần trước. Trong tháng 2, tồn kho tăng 41.508 bao và tháng 1 giảm 17.434 bao. Tháng 12 tăng 46.196 bao và tháng 11 giảm 24.769 bao. Lũy kế mức giảm trong tháng 10 là 138.209 bao và tháng 9 là 140.279 bao. Trong tháng 8, lượng tồn kho giảm 60.425 bao và tháng 7 giảm 70.552 bao. Tính chung năm 2025, tồn kho đạt chuẩn của ICE Futures US đã giảm 53,76%, bốc hơi tổng cộng 526.812 bao.
Tồn kho cà phê Arabica đạt chuẩn trên sàn ICE Futures US tại New York đang ở mức gần 0,6 triệu bao vào đầu năm 2026. Trong những năm gần đây, khối lượng này lớn hơn nhiều: 1,8 triệu bao vào năm 2021, 1,2 triệu bao vào năm 2022 và 0,8 triệu bao vào năm 2023. Sự sụt giảm này củng cố tình trạng thắt chặt nguồn cung và khiến thị trường nhạy cảm với bất kỳ rủi ro khí hậu nào tại Brazil (Nguồn: ICO, Reuters, CECAFÉ).
Đồng Đô la Mỹ hôm nay tăng 1,39%, đóng cửa ở mức 5,3150 BRL. Thứ Sáu tuần trước đóng cửa ở mức 5,2430 BRL và thứ Sáu tuần trước nữa ở mức 5,1340 BRL.
Tính theo đồng Real/bao, hợp đồng kỳ hạn tháng 5 trên sàn ICE Futures US hôm nay đóng cửa ở mức 2.004,80 BRL. Thứ Sáu tuần trước đóng cửa ở mức 2.034,16 BRL và thứ Sáu tuần trước nữa ở mức 1.906,64 BRL.
Thị trường Arabica vật lý tại Brazil duy trì khối lượng giao dịch thấp trong suốt cả tuần. Trong khi đó, thị trường Conilon vật lý lại ghi nhận số lượng giao dịch đáng kể hơn. Nông dân trồng Arabica tỏ ra ít sẵn sàng bán lượng cà phê còn lại của niên vụ 2025/2026 hiện tại ở mức giá mà thị trường đang chào mua. Đang có lực cầu đối với tất cả các tiêu chuẩn cà phê.
Trong tháng 2 vừa qua, có 2.618.408 bao cà phê (60 kg) được xuất khẩu, giảm 23,54% (806.040 bao) so với 3.424.448 bao của tháng 2/2025 và giảm 6,21% (173.329 bao) so với tháng 1. Trong số đó gồm 2.068.301 bao Arabica (giảm 28,87% hay 839.406 bao so với tháng 2/2025, và giảm 12,16% hay 286.224 bao so với tháng 1/2026) và 226.221 bao Conilon (giảm 1,98% hay 4.564 bao so với tháng 2/2025 và tăng 24,14% hay 43.996 bao so với tháng 1/2026), tổng cộng là 2.294.522 bao cà phê nhân xanh được xuất khẩu. Cộng thêm 320.663 bao cà phê hòa tan (tăng 26,92% hay 68.025 bao so với tháng 1/2026) và 3.223 bao cà phê rang, tổng khối lượng xuất khẩu trong tháng 2 đạt 2.618.408 bao.
Tính đến ngày 12, lượng xuất khẩu của tháng 3 đạt 674.099 bao Arabica, 62.151 bao Conilon, cộng thêm 41.774 bao cà phê hòa tan, tổng cộng đạt 778.024 bao, so với 1.023.012 bao cùng ngày của tháng 2. Cũng tính đến ngày 12, số lượng yêu cầu cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho các lô hàng giao tháng 3 đạt tổng cộng 1.054.413 bao, so với 1.294.799 bao cùng ngày của tháng trước.
Kể từ lúc đóng cửa ngày 6 (thứ Sáu) cho đến lúc đóng cửa hôm nay, sàn New York (ICE) đã chứng kiến hợp đồng kỳ hạn tháng 5 giảm 8.15 điểm, tương đương 10,78 USD (57,30 BRL) mỗi bao. Tính theo đồng Real, giá kỳ hạn tháng 5 trên sàn ICE đóng cửa ngày 6 ở mức 2.034,16 BRL/bao, và hôm nay ở mức 2.004,80 BRL. Hôm nay, đối với các hợp đồng giao tháng 5, sàn New York đóng cửa giảm 6.75 điểm.